Lượng cholesterol trong máu cao là
nguyên nhân chính gây ra bệnh tim mạch, đặc biệt dẫn đến các chứng xơ
vữa động mạch, tăng huyết áp, tai biến mạch máu nõa, thậm chí còn gây ra
các bệnh về sỏi túi mật, đài tháo đường.

- Những năm 70 của thế kỷ trước,
tỷ lệ người có lượng cholesterol (thành phần của chất béo có trong máu )
vượt ngưỡng chỉ chiếm khoảng vài phần trăm dân số thì đến nay, 29,1%
dân số cả nước có lượng cholesterol trong máu vượt ngưỡng. Đáng báo
động, tỷ lệ này ở người thành thị lên tới 44,3%. Các nhà chuyên môn cảnh
báo, lượng cho lesterol trong cơ thể quá cao sẽ gây các bệnh về tim
mạch, huyết áp, đái tháo đường…Vậy cần phải làm gì để phòng tránh nguy
cơ trên.
- Các yếu tố nguy cơ thường gặp:
Bệnh
tim mạch đã và đang là vấn đề sức khỏe rất được quan tâm trên thế giới,
tỷ lệ tử vong, và di chứng do bệnh tim mạch vẫn chiếm hàng đầu và đang
có xu hướng gia tăng nhanh chóng ở các nước đang phát triển. Theo trung
tâm thống kê sức khỏe quốc gia hoa kỳ, hơn 68 triệu người dân nước này
đang có ít nhất một rối loạn về tim mạch và rất nhiều người khác được
cho là có nguy cơ mắc một trong những bệnh lý nguy hiểm này. Tại Việt
Nam, điều tra gần đây có tới trên 20% số người lớn bị tăng huyết áp.
Kiểm soát các yếu tố nguy cơ của bệnh lý tim mạch là vô cùng quan trọng
trong việc giảm tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong do bệnh tim mạch.
- Thế nào là yếu tố nguy cơ? Yếu
tố nguy cơ của bệnh tim mạch là yếu tố liên quan với sự gia tăng khả
năng mắc bệnh tim mạch. Vậy, yếu tố nguy cơ của tim mạch bao gồm: Các
yếu tố nguy cơ không thể thay đổi được và Các yếu tố nguy cơ có thể thay
đổi được.
+ Các yếu tổ nguy cơ không thể thay đổi được bao gồm những yếu tố sau:
Tuổi:
hơn nửa số người bị đột quỵ tim mạch và tới 4/5 số người bị đột quỵ có
tuổi cao hơn 65. Cố nhiên là bạn không thể giảm bớt tuổi đời của mình
được những việc ăn uống điều độ và sinh hoạt hợp lý có thể giúp làm chậm
lại quá trình thoái hóa do tuổi tác gây ra.
- Gới: Đàn ông có nguy cơ mắc bệnh
mạch vành, đột quỵ và các bệnh tim mạch khác cao hơn so với nữ giới.
Hiện nay, tuổi thọ của phụ nữ nói chung cao hơn nam giới trung bình 4 – 6
năm.
- Yêu tố di truyền: Nếu trong gia
đình bạn có người mắc bệnh tim mạch khi còn trẻ (nam dưới 55 tuổi và nữ
dưới 65 tuổi), bạn phải cảnh giác hơn để tránh được cơn đau tim hoặc đột
quỵ.
Các yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được gồm có:
- Tăng huyết áp: tăng huyết áp
được xác định nếu con số huyết áp luôn vượt qua 140/90mmHg. Rất nhiêu
nghiên cứu cho thấy, điều trị thành công tăng huyết áp làm giảm rõ rệt
các nguy cơ của nó. May măn thay, hiện tại chúng ta đang có rất nhiều
thuốc hạ huyết áp tốt, dễ dàng dung nạp và dùng được lâu dài.
- Tăng cholesterol trong máu và
các rối loạn lipid liên quan: Tăng hàm lượng các chất mỡ trong máu
(cholesterol và triglyceride) rất thường gặp, các nghiên cứu cho thấy,
nồng độ cholesterol toàn phần trong máu là yếu tố dự báo mạnh về nguy cơ
mắc bệnh mạch vành và đột quỵ. Nồng độ cholesterol toàn phần trong máu
dưới 5,2mmol/dl được coi là bình thường. Khi cholesterol tăng cao sẽ
đồng nghĩa với nguy cơ đột quỵ tim mạch tăng cao theo tuyến tính.
- Cholesterol toàn phần bao gồm
nhiều dạng cholesterol trong lượng phân tử cao và cholesterol trong
lượng phân tử thấp. Nồng độ cholesterol trong lượng phân tử thấp trên
3,0mmol/dl là yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch. Ngược lại, cholesterol
trong lượng phân tử cao được xem là có vai trò bảo vệ bạn. Hàm lượng
cholesterol trong lượng phân tử cao trong máu càng cao thì nguy cơ mắc
bệnh tim mạch càng thấp (tối thiểu phải cao hơn 1,0mmol/dl).
- Hút thuốc lá: 30 – 40% trong số
khoảng 500.000 trường hợp chết vì bệnh tim mạch vành hàng năm có nguyên
nhân từ thuốc lá. Các kết quả từ nghiên cứu Famingham đã chứng minh
rằng, nguy cơ đột tử cao hơn 10 lần ở nam và 5 lần ở nữ giới có hút
thuốc. Thuốc lá là yếu tố nguy cơ số một đối với đột tử và bệnh mạch
ngoại vi.
May thay, nguy cơ mắc bệnh sẽ giảm
ngay sau khi bỏ thuốc lá. Dần dần, mức độ nguy cơ của họ sẽ gần như
tương đương với người chưa bao giờ hút thuốc lá.
- Béo phì: Trong một nghiên cứu
gần đây trên 100.000 phụ nữ tuổi từ 30 -50, nguy cơ tim mạch cao gấp 3
lần ở nhóm béo nhất so với nhóm có cân nặng thấp nhất.
- Có hai dạng béo phì, ở dạng thứ
nhất, mỡ thừa thường tập tại vùng bụng và thường gặp ở nam giới (gọi là
bụng bia) hày người hình quả táo. Dạng thứ 2 được đặc trung bởi sự tích
lũy mỡ nhiều ở vùng mông và đùi, thường gặp ở phụ nữ (người hình quả
lê). Kiều béo phì ở bụng có liên quan với sự gia tăng nguy cơ mắc bệnh
tim mạch đặc biệt là bệnh mạch vành và đột quỵ. Các nhà khoa học khuyến
cáo , nếu bạn là nam giới, tốt nhất không nên để vòng bụng vượt quá 90%
vòng mông, nếu bạn là phụ nữ, hãy cố gắng duy trì con số náy dưới 80%
- Đái tháo đường và kháng insulin:
Những người mắc bệnh đái tháo đường, đặc biệt là đái tháo đường xuất
hiện sau 40 tuổi (gọi là type II)có tỷ lệ bình thường. Bệnh cảnh kháng
insulin trong máu có thể gây tăng huyết áp và tăng lắng đọng cholesterol
vào mảng vữa xơ động mạch. Hậu quả là thúc đẩy quá trình xơ vữa và các
biến chứng của nó.
- Lười vận động (lối sống tĩnh
lại): lối sống tĩnh tại được coi là một nguy cơ của các nguy cơ tim
mạch. Việc vận động hàng ngày đều đặn ít nhất 45 phút mang lại lợi ích
rõ rệt trong giảm nguy cơ bệnh tim mạch.
- Rượu nếu sử dụng điều độ, tức
không quá 1 đến 2 chén mỗi ngày, rượu có thể giúp ngăn ngữa xơ vữa động
mạch và bệnh mạch vành. Nếu uống quá nhiều rượu (nhiều hơn 60ml rượu
vang, 300ml bia, hoặc 30ml rượu nặng) mỗi ngày làm tăng huyết á
p, tăng nguy cơ tổn thương gan và biến chứng thần kinh trung ương cũng như rất nhiều rối loạn khác.
Nguồn tin từ : Máy đo huyết áp
Phát hành: Nhà xuất bản Hồng Đức